Cổng thông tin điện tử văn phòng UBND tỉnh Kiên Giang

Biển và Hải đảo

Xem với cỡ chữAA

Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất thải nhựa đại dương đến năm 2030

(14:51 | 13/12/2019)

Thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

              
                       Ông Quảng Trọng Thao, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, ông Huỳnh Quang Hưng, Phó Chủ tịch
                        UBND huyện Phú Quốc và bà Nguyễn Thị Diệu Thúy, Quản lý dự án – WWF Việt Nam ký kết
                                 khởi động thực hiện Dự án “Phú Quốc – Hướng tới hòn đảo không rác thải nhựa”.

 

Đại dương chiếm ¾ diện tích của trái đất, là nơi cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm cho con người, nhưng chúng ta đang đầu độc nó với hàng triệu tấn rác thải nhựa mỗi năm; ước tính hiện nay có khoảng 150 triệu tấn rác thải nhựa trôi nổi trên đại dương, và mỗi năm bổ sung thêm 8 triệu tấn rác thải nhựa trôi dạt ra đại dương, có trên 80% rác thải nhựa xuất phát từ các hoạt động tiêu dùng của con người theo kênh rạch, đổ ra biển. Với tốc độ vứt bỏ các loại sản phẩm nhựa dùng 1 lần như chai nhựa, cốc nhựa, túi nhựa, nilon, ống hút,… đến năm 2050; thiệt hại do rác thải biển gây nguy hại cho hơn 600 loài hải sản, 15% số loài ở biển sẽ bị ảnh hưởng do ăn phải rác thải nhựa, các hệ sinh thái biển (rạn san hô, cỏ biển,…) có thể chết vì bị rác thải nhựa bao phủ; rác thải nhựa đang trở thành mối đe dọa đối với sự sống của các loài sinh vật biển, các hoạt động ngành thủy sản và du lịch biển... của các quốc gia có biển trên thế giới.

Ngày 04 tháng 12 năm 2019, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1746/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất thải nhựa đại dương đến năm 2030.

Mục tiêu chung của Kế hoạch là thực hiện có kết quả các sáng kiến và cam kết của Việt Nam với quốc tế về việc giải quyết các vấn đề rác thải nhựa mà trọng tâm là rác thải nhựa đại dương, bảo đảm ngăn ngừa việc xả rác thải nhựa từ các nguồn thải trên đất liền và các hoạt động trên biển, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành quốc gia tiên phong trong khu vực về giảm thiểu rác thải nhựa đại dương. Góp phần thực hiện thành công Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm bảo đảm xây dựng, thực hiện có hiệu quả Đề án tăng cường quản lý chất thải nhựa ở Việt Nam. Phù hợp với cách tiếp cận theo mô hình kinh tế tuần hoàn, góp phần thúc đẩy hoạt động thu hồi, tái chế, tái sử dụng chất thải nhựa ở Việt Nam. Đồng thời, nâng cao nhận thức, ứng xử và thói quen sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần, túi ni lông khó phân hủy của cộng đồng và xã hội.

Phấn đấu đến năm 2025, giảm thiểu 50% rác thải nhựa trên biển và đại dương; 50% ngư cụ khai thác thủy sản bị mất hoặc bị vứt bỏ được thu gom; 80% các khu, điểm du lịch, cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch và dịch vụ du lịch khác ven biển không sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần và túi ni lông khó phân hủy; bảo đảm tối thiểu một năm hai lần phát động tổ chức chiến dịch thu gom, làm sạch các bãi tắm biển trên toàn quốc; 80% các khu bảo tồn biển không còn rác thải nhựa. Đến năm 2030, giảm thiểu 75% rác thải nhựa trên biển và đại dương; 100% ngư cụ khai thác thủy sản bị mất hoặc bị vứt bỏ được thu gom, chấm dứt việc thải bỏ ngư cụ trực tiếp xuống biển; 100% các khu, điểm du lịch, cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch và dịch vụ du lịch khác ven biển không sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần và túi ni lông khó phân hủy; 100% các khu bảo tồn biển không còn rác thải nhựa.

 


                                                          Thực trạng rác thải ven biển xã đảo Nam Du-Kiên Hải.

 

Để thực hiện được các mục tiêu trên, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp như sau:

- Một là, Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, ứng xử với các sản phẩm nhựa và rác thải nhựa đại dương: Xây dựng và thực hiện các chương trình truyền thông về tác hại của các sản phẩm sử dụng một lần có nguồn gốc từ nhựa, túi ni lông khó phân hủy đối với biển và đại dương, các hệ sinh thái biển, môi trường và sức khỏe con người; các chương trình thu gom, xử lý rác thải nhựa đại dương; cách thức, ý nghĩa của việc phân loại chất thải tại nguồn, thay đổi thói quen sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần và túi ni lông khó phân hủy. Đồng thời triển khai nhân rộng mô hình tốt trong phong trào thu gom, phân loại vận chuyển và xử lý chất thải, rác thải nhựa ở khu vực ven biển, trên biển; tuyên truyền, kêu gọi các tổ chức, cá nhân tăng cường tái chế, tái sử dụng chất thải nhựa, thúc đẩy xây dựng nên kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh.

- Hai là, Thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải, rác thải nhựa ở khu vực ven biển, trên biển: tổ chức thực hiện có hiệu quả các phong trào, chiến dịch thu gom, làm sạch bãi biển quy mô quốc gia, địa phương và cộng đồng dân cư ven biển tối thiểu một năm hai lần; bố trí các thiết bị lưu chứa và các điểm tập kết chất thải, rác thải nhựa phù hợp, an toàn, thuận lợi, bảo đảm mỹ quan và vệ sinh môi trường. Tạo điều kiện, khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động thu gom, phân loại, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng chất thải nhựa ở các lưu vực sông, khu vực các hệ sinh thái ven biển, rừng ngập mặn, các bãi tắm, vùng nước ven biển.

- Ba là, Kiểm soát rác thải nhựa từ nguồn: Điều tra, thống kê, phân loại, đánh giá các nguồn thải nhựa phát sinh từ đất liền và từ các hoạt động trên biển, hải đảo; thực hiện tốt mô hình phân loại chất thải, rác thải nhựa tại nguồn; xây dựng, hoàn thiện hệ thống thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý chất thải nhựa tại các khu công nghiệp, đô thị, khu du lịch, khu dân cư tập trung ven biển, ven sông, cảng biển theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về thu gom và xử lý chất thải nhựa phát sinh từ các hoạt động kinh tế thuần biển, bao gồm: du lịch và dịch vụ biển, kinh tế hàng hải, khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản, nuôi trồng và khai thác thủy sản, năng lượng biển, đặc biệt là các đảo có tiềm năng phát triển du lịch, dịch vụ biển và đa dạng sinh học cao thuộc 12 huyện đảo và các cấu trúc trên biển có người sinh sống.

- Bốn là, Hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển, chuyển giao công nghệ về xử lý rác thải nhựa đại dương: Tham gia có trách nhiệm cùng cộng đồng quốc tế giải quyết vấn đề chất thải nhựa đại dương, đặc biệt với các quốc gia ASEAN và các nước khu vực biển Đông Á; đẩy mạnh nghiên cứu, trao đổi chuyên sâu, chia sẻ thông tin dữ liệu với các quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực, trên thế giới về rác thải nhựa đại dương. Duy trì và phát triển quan hệ hợp tác với các tổ chức quốc tế về biển; chủ động ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế; phối hợp trong việc kiểm soát, quản lý rác thải nhựa đại dương.

- Năm là, Điều tra, khảo sát, rà soát, nghiên cứu, xây dựng cơ chế quản lý rác tải nhựa đại dương đảm bảo đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả.

Thủ tướng Chính phủ giao các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển trong phạm vi trách nhiệm quản lý chủ động xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện các nhiệm vụ được phân công, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng, hiệu quả; định kỳ hằng năm và 5 năm, gửi báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.

Thành Nghĩa